Thứ Tư, 5 tháng 6, 2013


THAY ÐỔI VỀ THỂ LÝ người già
Sự thay đổi về diện mạo bề ngoài thì ai cũng thấy như: da nhăn, tóc bạc, lưng khòm, đi đứng chậm chạp, nói năng chậm chạp, mắt mờ, tai lãng, sức yếu v.v... Tôi muốn trình bày ở đây những sự thay đổi tinh tế mà nếu không lưu tâm, chúng ta sẽ không nhận ra, và từ đó, đưa đến sự thiếu sót trong việc chăm sóc cho các cụ, nhiều khi đưa tới những hậu quả tai hại cho sức khỏe cả về thể chất lẫn tinh thần:
1. Phản ứng chậm:  sau khi nghe câu hỏi, người già cần một khoảng thời gian lâu hơn để ghi nhận dữ kiện, và thời gian lâu hơn để đưa ra câu trả lời. Do đó, chúng ta cần nói chậm rãi hơn bình thường, nhìn thẳng vào mắt các cụ để biết rằng các cụ đang chú ý lắng nghe, khi có câu hỏi quan trọng. Chúng ta cũng cần chờ lâu hơn bình thường để nghe câu trả lời. Nếu các cụ lãng tai, thì chúng ta càng cần kiên nhẫn hơn nữa.
2. Sự đi đứng chậm chạp và phản ứng chậm khiến các cụ cần nhiều thời gian hơn để chuẩn bị mỗi khi đi ra ngoài. Do đó, chúng ta cần báo cho các cụ biết trước khi các cụ cần đi đâu, càng sớm càng tốt để các cụ chuẩn bị, như thay quần áo, thu xếp giấy tờ cần thiết. Chúng ta cần để ý đến tâm trạng sốt ruột và bực bội của mình khi chờ các cụ, để kiên nhẫn hơn và tránh những câu nói thiếu tế nhị làm các cụ cảm thấy tủi thân và mủi lòng.
3. Thiếu chú ý và hay quên:  thật ra, người già không mất đi những hiểu biết và khả năng của mình, các cụ chỉ chậm chạp hơn trong việc bày tỏ và vận dụng sự hiểu biết của mình mà thôi, do đó, nhìn bề ngoài chúng ta dễ nghĩ là các cụ hay quên khi chúng ta phải chờ một hồi lâu mới được câu trả lời mà mình muốn nghe. Chúng ta cần để ý đến sự bực bội của mình khi phải lập đi lập lại một điều đã cũ mà chúng ta cho rằng các cụ đã biết rồi. Chúng ta cần phân biệt sự chậm chạp và hay quên bình thường của người già với bệnh lẫn gọi là Dementia hay Alzheimer Disease. Hai bệnh này cần có sự khám nghiệm và điều trị của bác sĩ thần kinh hoặc bác sĩ tâm thần.
4.  Dễ mắc bệnh hơn người trẻ, do sự già lão và suy nhược của các cơ quan trong cơ thể, và do khả năng miễn nhiễm không còn mạnh mẽ như trước. Những bệnh như cảm cúm, sưng phổi, rất dễ đưa tới cái chết cho người già mặc dù người trẻ có thể đương cự và bình phục một cách dễ dàng. Những triệu chứng báo động của cơ thể không còn bén nhạy như trước, do đó, người già có thể không cảm thấy là mình đang khát mặc dù cơ thể đang bị thiếu nước trầm trọng, người già có thể không bị sốt cao như người trẻ mặc dù đang bị sưng phổi hay nhiễm trùng.  Do đó, người già cần được lưu tâm và quan sát đặc biệt để nhận ra những thay đổi cho thấy các cụ đang bị bệnh, hầu kịp thời săn sóc và chữa trị.
5.  Hay ngã té:  vì chân yếu và khả năng giữ quân bình không còn mạnh như xưa. Do đó, trong phòng tắm cần có những biện pháp ngừa trơn trợt khi các cụ ra vào bồn tắm. Các cụ có thể không lên xuống cầu thang một cách mạnh dạn hay dễ dàng như trước. Sau khi té ngã, bị gãy xương chẳng hạn, các cụ cũng cần thời gian lâu hơn mới bình phục lại được.

(Ảnh mang tính minh họa - Nguồn Internet)

THAY ÐỔI TÂM LÝ
Trong các giai đoạn của cuộc sống, tuổi già là tuổi con người ngưng bon chen với cuộc sống để bắt đầu thụ hưởng kết quả do những năm tháng trước mang lại. Tuổi này còn là lứa tuổi truyền lại cho con cháu và thế hệ sau những kinh nghiệm và sự hiểu biết, hoặc đóng góp vào xã hội qua những sinh hoạt xã hội, giáo dục và từ thiện. Bên cạnh đó, sự suy giảm chức năng có thể làm cho người già cảm thấy mình không còn làm chủ tình hình như trước và trở nên lo lắng quá độ.  Nếu con người tới tuổi già không có gì để thụ hưởng, sống nghèo khó, đơn côi, không người chăm sóc hay kề cận, hoặc có những ước mơ không thỏa, họ có thể có những xáo trộn tâm lý như phát bệnh trầm cảm hoặc trở nên lo lắng hay đa nghi. Sau đây là những thay đổi tâm lý còn nằm trong mức độ bình thường:
1.  Muốn được chăm sóc và để ý tới nhiều hơn: do những thay đổi thể lý, người già có thể mất đi những khả năng đã có như không thể lái xe được nữa, không tự nấu ăn hay chăm sóc vệ sinh cơ thể được nữa, do đó trở thành lệ thuộc người khác. Có người già chấp nhận và ứng phó thành công với sự suy giảm chức năng, nhưng cũng có người trở thành lo lắng quá độ, lúc nào cũng đòi con cái ở cạnh để được chăm sóc, hoặc trở thành cau có, gắt gỏng khi con cái bê trễ trong việc đáp ứng những nhu cầu của mình.
2. Sợ cô đơn: nhất là với đời sống ở các nước tân tiến và kỹ nghệ như tại Hoa Kỳ, tuổi trẻ bận rộn bay nhảy, bon chen, người già rất dễ thấy mình bị bỏ rơi và quên lãng trong bốn bức tường, nếu không có khả năng lái xe, đi xe bus để tham gia những sinh hoạt xã hội hoặc giải trí.  Sự cách biệt giữa các sinh hoạt thời còn trẻ và tuổi già càng nhiều thì sự thích nghi càng khó. Do đó, người già có thể có thái độ thất vọng, trì kéo và lệ thuộc vào con cái của mình. Chúng ta cần thông cảm thái độ này để cư xử một cách tế nhị hầu tránh rơi vào trường hợp hất hủi hay ngược đãi người già.
3. Hay lo âu hơn trước: chính vì chậm chạp, mất đi những chức năng và phải lệ thuộc hay nhờ vả người khác, mà người già trở nên lo lắng quá độ. Do sự lo lắng này, các cụ thường lập đi lập lại một yêu cầu hay một câu hỏi, để được trấn an. Nhưng chính sự lập đi lập lại này có thể làm con cháu hay người gần cận trở thành bực dọc và cau có với các cụ.
4. Dễ mủi lòng, tủi thân khi những nhu cầu hay yêu cầu của mình không được các con đáp ứng đầy đủ hay nhanh chóng.  Nhất là các cụ đã từng dành phần lớn thì giờ của đời mình trong việc chăm sóc, lo lắng cho các con với ước mơ được các con đền đáp lúc tuổi già.
5. Nếu người già có những ước mơ không thực hiện được, không hài lòng với cuộc đời mình, có thể có những triệu chứng của bệnh trầm cảm, và trở thành một người khó tính, hay gay gắt với con cái, và có thể, ganh tị cả với sự thành công của các con. Những người già can thiệp hay kiểm soát quá nhiều vào đời sống con cháu, thường là những người không thỏa hiệp và thích nghi được với giai đoạn mới này của đời sống.
NHỮNG ÐIỀU CẦN ÐỂ Ý KHI CƯ XỬ VỚI NGƯỜI CAO NIÊN
1. Hiểu được rằng người cao niên có những sự thay đổi do tuổi già đem lại, do đó, các cụ có thể không còn đáp ứng được những gì chúng ta mong ước nơi các cụ, như nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa, lái xe, ứng biến nhanh chóng đối với những sự thay đổi của đời sống. Hiểu như vậy sẽ giúp chúng ta thông cảm thay vì thất vọng hay nổi giận khi mọi chuyện không còn xảy ra như chúng ta mong ước.
2.  Quan tâm đến những nhu cầu thực tế và căn bản của các cụ hầu đáp ứng, như ăn, ngủ, phương tiện chuyên chở khi đi khám bác sĩ.  Ðể ý xem các cụ có chính xác trong việc uống thuốc đúng theo toa bác sĩ không hầu giúp đỡ.
3. Kiên nhẫn, tránh tìm cách chứng minh là các cụ sai lầm.  Cần suy nghĩ và nhận xét tình hình trước khi có phản ứng.  Bạn sẽ thấy rằng mình hay gắt gỏng và cau có với các cụ hơn trước chỉ vì bị hỏi đi hỏi lại một câu hỏi mà bạn đã trả lời nhiều lần.  Bạn cần để ý đến sự bực bội của mình vì các cụ quá chậm chạp mà mình thì đang gấp rút chạy đua với công việc.
4. Lắng nghe các cụ nói và ghi nhận, thay vì tìm cách sửa sai. Các cụ rất dễ tủi thân vì cho rằng con cái không còn kính trọng mình nữa. Cứ làm những điều bạn cho là đúng mà không cần phải thuyết phục các cụ đồng ý với mình, đồng thời vẫn ngọt ngào và chăm sóc các cụ. Nếu bạn cảm thấy khổ sở vì phải nghe các cụ lập đi lập lại những lời khuyên đã cũ, có thể tế nhị hướng câu chuyện sang một lãnh vực khác, hoặc biến những cuộc thăm viếng trở thành thường xuyên nhưng ngắn hạn hơn.
5. Cung cấp và tạo điều kiện cho các cụ có những sinh hoạt giải trí đều đặn, như đi bộ cùng các cụ khác, tập thể thao, đánh bài, đánh cờ tướng, đi du lịch.  Người già thường yêu thích trẻ con, do đó nên tạo cơ hội cho các cụ vui chơi với các cháu ngoại, cháu nội.
6. Khi thấy các cụ có những sự thay đổi lớn, như hay cau có, gắt gỏng, thay đổi tính nết trở thành khó chịu, hay quên, xuống cân, ít ngủ, biếng ăn, nên nghĩ đến những căn bệnh có thể xảy ra cho người già về thể chất lẫn tâm thần hầu kịp thời đưa các cụ đi khám bác sĩ, thay vì cho rằng chỉ là những thay đổi thông thường.
CÁI CHẾT
Vấn đề ưu tư hàng đầu của người già, dù nói ra hay không, vẫn là đối diện với cái chết. Có cụ rất thoải mái bàn luận về vấn đề này, có những thu xếp và hoạch định rõ ràng về tang lễ của mình. Có cụ không nói gì vì kiêng cữ, sợ xui xẻo, con cháu chỉ biết được ý các cụ sau khi đã qua đời, theo chúc thư để lại. Có cụ không thỏa hiệp được với cái chết, và có những dấu hiệu sợ hãi cái chết.  Do đó, bạn nên dò xét ý tứ các cụ và tạo cơ hội để các cụ có thể bàn bạc về vấn đề này một cách rõ ràng.  Các cụ đa số sẽ thấy yên tâm hơn khi con cháu biết được ý muốn của mình và tỏ vẻ



Mầu nhiệm Nhập Thể cho chúng ta thấy rằng Thiên Chúa đã không cho cái gì, nhưng là cho chính mình trong Người Con Duy Nhất với sự nhưng không và tình yêu thương.
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã khẳng định như trên với mấy ngàn tín hữu tham dự buổi tiếp kiến thứ hai của năm 2013 trong đại thính đường Phaolô VI sáng thứ tư 09-01-2013.
Vì đang là mùa Giáng Sinh, nên trong bài huấn dụ, Đức Thánh Cha đã tiếp tục khai triển ý nghĩa mầu nhiệm Ngôi Lời Con Thiên Chúa nhập thể làm người.
Trong mùa này, khi tham dự các lễ nghi phụng vụ, chúng ta thường nghe vang lên nhiều lần từ “nhập thể” diễn tả thực tại chúng ta cử hành trong lễ Giáng Sinh: đó là Con Thiên Chúa đã làm người, như chúng ta đọc trong kinh Tin Kính. Từ chính yếu này đối với đức tin kitô có nghĩa là gì? Nó bắt nguồn từ tiếng La tinh “incarnatio”. Và Đức Thánh Cha giải thích ý nghĩa từ “nhập thể” như sau:
Ở đây từ ”thịt xác”, theo sử dụng của tiếng Do thái, ám chỉ con người trong sự toàn vẹn của nó, tất cả con người, nhưng chính dưới khía cạnh của sự tàn tạ, của tính chất tạm thời, của sự nghèo nàn và hữu hạn của nó. Điều này để nói với chúng ta rằng ơn cứu độ do Thiên Chúa nhập thể nơi Đức Giêsu thành Nagiarét đem đến, liên quan tới con người trong thực tại cụ thể và trong bất cứ tình trạng sống nào của nó.
Thiên Chúa đã nhận lấy điều kiện là người, để chữa lành nó khỏi tất cả những gì chia rẽ nó với Người, để cho phép chúng ta gọi Người, trong Người Con Duy Nhất, với tên gọi ”Abba, Cha” và thật sự, chúng ta là con cái của Người. Thánh Ireneo khẳng định rằng: ”Đó là lý do, bởi đó Ngôi Lời đã làm người, và Con Thiên Chúa, Con của con người: để cho con người, khi bước vào sự hiệp thông với Ngôi Lời và như thế, nhận được ơn là con Thiên Chúa, trở thành con Thiên Chúa” (Adversus haereses 3,19,1; PG 7,939; x. SGLGHCG, 460).
Tiếp tục bài huấn dụ, Đức Thánh Cha ghi nhận rằng sự kiện “Ngôi Lời nhập thể” đã trở thành một thực tại quen thuộc, khiến cho chúng ta không còn ý thức được sự cao cả mà nó diễn tả nữa. Thật thế, trong mùa Giáng Sinh thường khi người ta chú ý nhiều tới các khía cạnh bề ngoài, các ”màu mè” của ngày lễ hơn là trọng tâm sự mới mẻ kitô vĩ đại mà chúng ta cử hành: một cái gì không thể tưởng được, mà chỉ có Thiên Chúa có thể làm và chúng ta chỉ có thể bước vào đó với lòng tin. Ngôi Lời, Ngôi Lời là Thiên Chúa (x. Ga 1,1) mà nhờ Người mọi sự đều được tạo thánh (x. 1,3), và Người đã đồng hành với loài người trong lịch sử với ánh sáng của Người (x. 1,4-5; 1,9) trở thành thịt xác và ở giữa chúng ta, trở thành một người như chúng ta (X. 1,14). Công Đồng Chung Vatican II khẳng định rằng: “Con Thiên Chúa... đã làm việc với bàn tay con người, đã suy nghĩ bằng trí tuệ con người, đã hành động với ý chí con người, đã yêu mến bằng qủa tim con người. Sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria, Người đã thực sự trở nên một người giữa chúng ta, ngoại trừ tội lỗi” (GS 22). Vì thế, thật là điều quan trọng tái chiếm được sự kinh ngạc trước mầu nhiệm, để cho chúng ta được bao bọc bởi sự vĩ đại của biến cố: Thiên Chúa đã rong ruổi các nẻo đường của chúng ta như là người, bước vào trong thời gian của con người để thông truyền cho chúng ta chính sự sống của Người (x. Ga 1,14). Và Người đã làm điều đó với ánh quang của một vì vua, chế ngự thế giới với quyền lực của Người, nhưng với sự khiêm tốn của một trẻ thơ.
Điểm thứ hai Đức Thánh Cha suy tư trong bài huấn dụ là thói quen tặng qùa trong dịp Giáng Sinh. Đôi khi nó là một cử chỉ làm vì tập tục, nhưng nói chung, nó diễn tả sự trìu mến, và là dấu chỉ của tình yêu và sự quý mến. Trong lời nguyện lễ rạng đông Giáng Sinh chúng ta đọc: “Lậy Cha, xin nhận lấy của lễ chúng con dâng trong đêm ánh sáng này, và nhờ sự trao đổi mầu nhiệm của các ơn này, xin biến đổi chúng con trong Chúa Kitô Con Chúa, là Đấng đã nâng con người lên bên Chúa trong vinh quang”. Đức Thánh Cha giải thích điểm này như sau:
Tư tưởng ban tặng này là trung tậm của phụng vụ và nhắc nhở lương tâm chúng ta ơn nguyên thủy của lễ Giáng Sinh: trong đêm thánh này Thiên Chúa làm người đã muốn tự ban tặng mình cho loài người, đã tự ban mình cho chúng ta; Người đã nhận lấy nhân tính của chúng ta để ban cho chúng ta thiên tính của Người. Đó là ơn vĩ đại. Cả trong việc tặng quà của chúng ta qùa đắt giá hay ít giá không quan trọng; ai không thành công trong việc cho đi một ít chính mình, thì luôn luôn cho ít. Còn hơn thế nữa, đôi khi người ta tìm thay thế trái tim và sự dấn thân cho đi chính mình, bằng tiền bạc với các sự vật vật chất. Mầu nhiệm Nhập Thể đang chỉ cho thấy rằng Thiên Chúa đã không làm như vậy: Người đã không cho cái gì, nhưng là cho chính mình trong Người Con Duy Nhất. Ở đây chúng ta tìm thấy mô thức việc cho đi của chúng ta, để cho các tương quan của chúng ta, đặc biệt là các tương quan quan trọng nhất, được hướng dẫn bởi sự nhưng không và tình yêu thương.
Điểm suy tư thứ ba là sự kiện nhập thể của Thiên Chúa làm người cho thấy cái thực tế chưa từng có của tình yêu Thiên Chúa. Thật vậy, hành động của Thiên Chúa không hạn chế nơi các lời nói, còn hơn thế nữa, chúng ta có thể nói rằng Người không hài lòng với việc nói, mà còn đắm mình trong lịch sử của chúng ta và lãnh nhận trên mình sự mệt nhọc và cái nặng nề của cuộc sống con người. Con Thiên Chúa đã thực sự làm người, sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria, trong một thời gian và nơi chốn xác định, tại Bếtlêhem trong triều đại của hoàng đế Augusto, dưới thời tổng trấn Quirino (x. Lc 2,1-12).
Người đã lớn lên trong một gia đình, đã có các bạn hữu, đã thành lập một nhóm các môn đệ, đã dậy dỗ các Tông Đồ để tiếp tục sứ mệnh của Người, đã kết thúc chặng đường dương thế trên thập giá. Kiểu hành động này của Thiên Chúa mạnh mẽ khích lệ chúng ta tự vấn về sự thực tế đức tin của chúng ta. Nó không được hạn chế ở lãnh vực tình cảm, các xúc động, mà phải bước vào trong cái cụ thể của cuộc sống, nghĩa là phải đụng chạm tới cuộc sống thường ngày của chúng ta và hướng dẫn nó một cách cụ thể. Thiên Chúa đã không chỉ dừng lại ở lời nói, nhưng đã chỉ cho chúng ta sống thế nào, bằng cách chia sẻ chính kinh nghiệm của chúng ta, ngoại trừ tội lỗi.
Sách giáo lý của Đức Giáo Hoàng Pio X hỏi: ”Để sống theo Thiên Chúa chúng ta phải làm gì?”, và trả lời: ”Để sống theo Thiên Chúa chúng ta phải tin các chân lý được Người mạc khải, và giữ các giới răn với sự trợ giúp của ơn thánh Người, có được qua các bí tích và việc cầu nguyện”. Đức tin có một khía cạnh nền tảng không chỉ liên quan tới trí tuệ và con tim, mà liên quan tới toàn cuộc sống chúng ta”.
Điểm thứ tư trong suy tư của Đức Thánh Cha liên quan tới khắng định của thánh Gioan: “Từ nguyên thủy Ngôi Lời đã ở gần Thiên Chúa và nhờ Người mà muôn vật được tạo thành, và không có Người thì chẳng có gì được tạo thành (Ga 1,1-3).
Thánh sử rõ ràng ám chỉ trình thuật tạo dựng trong các chương đầu sách Sáng Thế và đọc lại chúng dưới ánh sáng của Chúa Kitô. Đây là một tiêu chuẩn nền tảng trong việc đọc Thánh Kinh: Cưụ Ước và Tân Ước luôn luôn được đọc chung với nhau, và từ Tân Ước, mở ra ý nghĩa sâu xa hơn của cả Cựu Ước. Chính Ngôi Lời luôn luôn hiện hữu gần Thiên Chúa, và chính Người là Thiên Chúa, và nhờ Người và cho Người mà tất cả được tạo thành (x. Cl 1,16-17) đã làm người: Thiên Chúa vĩnh cửu và vô biên đã dìm mình trong cái hữu hạn của con người, trong thụ tạo của Người, để tái dẫn đưa con người và toàn thụ tạo tới với Người. Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo khẳng định rằng: “Việc tạo dựng thứ nhất tìm thấy ý nghĩa và tột đỉnh của nó trong việc tạo dựng mới nơi Chúa Kitô, mà ánh quang vượt ánh quang của việc tạo dựng đầu tiên” (s. 349).
Các Giáo Phụ đã để Đức Giêsu và Ađam cạnh nhau đến độ định nghĩa Người là “Adam thứ hai” hay Ađam vĩnh viễn, hình ảnh toàn hảo của Thiên Chúa. Với việc nhập thể của Con Thiên Chúa, xảy ra một cuộc tạo dựng mới, trả lời hoàn toàn cho câu hỏi ”Ai là con người”. Chỉ nơi Đức Giêsu chương trình của Thiên Chúa đối với con người mới biểu lộ tràn đầy: Người là con người vĩnh viễn theo Thiên Chúa. Công Đồng Chung VaticAN II đã mạnh mẽ nêu bật điều này: ”Thực vậy, mầu nhiệm về con người chỉ thực sự được sáng tỏ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể... Bởi vì Chúa Kitô, Ađam mới, biểu lộ con người cho con người một cách tràn đầy và vén mở cho nó ơn gọi rất cao vời của nó” (GS 22; SGLGHCG, 359). Nơi Hài Nhi Con Thiên Chúa được chiêm ngắm trong lễ Giáng Sinh chúng ta có thể nhận biết gương mặt thật của con người; và chỉ khi chúng ta rộng mở cho hoạt động của ơn thánh Chúa và tìm theo Người mỗi ngày chúng ta mới thực hiện được chương trình của Thiên Chúa đối với chúng ta.
Đức Thánh Cha đã chào tín hữu băng nhiều thứ tiếng khác nhau.
Chào các bạn trẻ người đau yếu và các cặp vợ chồng mới cưới, Đức Thánh Cha nhắc cho mọi người biết rằng Chúa Nhật tới đây, là lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa. Đây là dịp thuận tiện giúp suy tư trở lại việc thuộc về Chúa Kitô trong đức tin của Giáo Hội.
Đức Thánh Cha khuyên các bạn trẻ tái khám phá ra mọi ngày, ơn thánh đến từ bí tích Rửa Tội.
Đức Thánh Cha khích lệ các bệnh nhân múc lấy sức mạnh từ bí tích ấy trong những lúc khổ đau, không được an ủi. Và ngài nhắn nhủ các cặp vợ chồng mới cưới biết diễn tả dấn thân của bí tích Rửa tội trong cuộc sống gia đình.
Sau cùng, Đức Thánh Cha đã cất kinh Lạy Cha và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Linh Tiến Khải
(Vatican2013-01-09)

Thứ Hai, 3 tháng 6, 2013


THÁNH TÊRÊSA HÀI ÐỒNG GIÊSU,
TIẾN SĨ HỘI THÁNH
(02.01.1873 - 30.09.1897)
 Thánh nữ Têrêsa tên chính là Maria Phanxico Teresa Martin, sinh ngày 02.01.1873 tại Alecon, Normandie, Pháp. Tên “Têrêsa Hài Ðồng Giêsu” là tên khấn Dòng. Chị cũng còn gọi là Têrêsa thành Lisieux vì chị tu ở Dòng Carmêlô thành Lisieux, nước Pháp. Têrêsa mồ côi mẹ từ khi tuổi chưa lên bốn, được thân phụ là ông Louis Martin săn sóc giáo dục chu đáo, Têrêxa đã được cha và các chị hướng dẫn trên đường làm tôi trung của Chúa và thánh nữ đã tiến triển một cách mau lẹ. Têrêxa được Rước lễ lần đầu và lãnh nhận Bí tích Thêm sức vào năm Ngài tròn 10 tuổi.
Thánh nhân đã lâm một trọng bệnh vào chính năm đó và đã được Ðức Mẹ cứu chữa một cách lạ lùng. Năm 1887, vào đêm sinh nhật, thánh nhân đã được ơn quay trở về với Chúa để càng lúc càng yêu mến Chúa nồng nàn.
Dù ở tuổi vị thành niên chưa được phép tu Dòng, Têrêsa đã được chính Ðức Giáo Hoàng ban cho đặc ân miễn tuổi để được vào Dòng Carmêlô. Năm 1887, ông Martin Guérin cùng với hai cô gái út là Cêcilia và Têrêsa ghi danh tham gia đoàn hành hương Pháp sang Rôma mừng lễ kỹ niệm 50 năm Linh Mục (1837 - 1887) của Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII. Phái đoàn Giáo Phận Nantes trong đó có ông Guérin và hai cô gái út do Ðức Cha Hugonin dẫn đầu và Cha Chính Révérony tháp  tùng. Cêcilia 18 tuổi, Têrêsa 15 tuổi, là hai thành viên nhỏ nhất của giáo đoàn Pháp. Các giáo đoàn đều được Ðức Thánh Cha cho triều yết. Các thành viên được phép đến từng người quỳ gối hôn nhẫn và nhận phép lành của Ðức Thánh Cha, nhưng mọi người được yêu cầu là không nên trình thưa gì với Ngài vì Ðức Thánh Cha rất yếu mệt và thời giờ dành cho mỗ phái đoàn cũng rất giới hạn. Têrêsa ấp ủ trong lòng một nguyện vọng, là xin Ðức Thánh Cha đồng ý cho mình được vào Dòng Kín ngay ở tuổi 15 này, vì Têrêsa đã mấy lần xin vào tu dòng này đều bị từ chối vì lý do chưa đủ tuổi quy định. Nhân cơ hội đến nhận phép lành, Têrêsa đánh bạo xin  Ðức Thánh Cha ban cho ân huệ duy nhất ấy. Ðức Thánh Cha Lêô XIII bỡ ngỡ quay sang Cha Chính Révérony dò ý (lúc đó Ðức Cha Hugonin bận việc khác, nên Cha Chính Révesrony thay thế cầm đầu phái đoàn). Cha Chính trình bày vắn tắt sự việc. Ðức Thánh Cha bèn phán bảo Têrêsa: “Các đấng Bề Trên định sao, hãy vâng theo vậy”. Têrêsa vẫn van nài : “Cúi lạy Ðức Thánh Cha, nhân mừng lễ vàng linh mục của Ðức Thánh Cha hôm nay, con chỉ van xin Ðức Thánh Cha ban cho con một  ân huệ duy nhất là cho con được vào tu Dòng Kín Carmêlô ngay năm này”. Ðức Thánh Cha bèn đáp: “Nếu quả đó là điều Chúa muốn, Cha cho phép”.
Những năm cuối cùng của Têrêsa được đánh dấu với sự suy sụt được chịu đựng một cách kiên trì, không lời than thở. Sáng thứ Sáu Tuần Thánh năm 1896, Têrêsa bắt đầu ho ra máu. Căn bệnh lao phổi đã đi đến hồi nghiêm trọng. Têrêsa đã có liên lạc với một cơ sở truyền giáo của dòng Camêlô ở bên Đông Dương thuộc Pháp và đã được mời đi, nhưng vì bệnh tình, nên đã không đi được. Tháng 07.1897, Têrêsa được chuyển đến bệnh xá của tu viện, nơi người nữ tu trẻ trút hơi thở cuối cùng vào ngày 30.09.1897, ở tuổi 24. Trên giường bệnh, người ta nói rằng Têrêsa đã trối: "Con đã đạt đến mức mà không thể nào chịu đau khổ được nữa, bởi vì đau khổ đã trở nên quá ngọt ngào đối với con."
Têrêsa chỉ là một nữ tu hèn mọn quanh năm suốt tháng đóng khung trong bốn bức tường nhà tu kín cho đến khi lìa trần. Vậy mà 28 năm sau, năm 1925, Ngài đã được Ðức Giáo Hoàng Piô XI tôn phong lên bậc Hiển Thánh. Hai năm sau, cũng chính Ðức Piô XI tôn vinh Thánh Nữ làm Quan Thầy các Nhà Truyền Giáo và các Xứ Truyền Giáo.
Giáo Hội đã công nhận thành quả truyền giáo thật sự của một nữ tu kín chưa hề rảo bước bôn ba đi đây đó để rao giảng Tin Mừng khắp muôn dân như một nhà truyền giáo đích thực. Thánh nữ Têrêsa Hài Ðồng Giêsu vốn chỉ là một thiếu nữ mọn hèn với một nếp sống vô cùng bình dị, chưa làm điều gì trổi vượt dưới mắt người đời. Song “đằng sau những việc nhỏ bé của con người thấp hèn ấy lại ẩn chứa một tình yêu cao cả”: Yêu mến Chúa, rồi từ Chúa yêu thương các nhà truyền giáo và các xứ truyền giáo. Ðích nhắm trong lời cầu nguyện của Thánh nữ Têrêsa là các nhà truyền giáo và các xứ truyền giáo. Những nhọc nhằn, đau đớn dù là nhỏ nhặt nhất từ tâm thần đến thể xác, Thánh nhân đều âm thầm chịu đựng tất cả, dâng lên Chúa mọi điều khốn khó để cầu cho hạt giống Phúc Âm do các nhà truyền giáo gieo vãi được đâm chồi nẩy lộc khắp thế giới. Làm việc truyền giáo trong bốn bức tường, truyền giáo bằng cầu nguyện, bằng những việc hy sinh hãm mình, Têrêsa gọi đó là “những bông hồng nhỏ” dâng lên Chúa Giêsu Hài Ðồng cho lương dân các xứ truyền giáo sớm nhận biết Chúa.
Ngày 19.10.1997, trong Thánh Lễ trọng cử hành tại công trường Thánh Phêrô ở Roma, trước sự tham dự của hàng trăm ngàn tín hữu từ khắp năm châu đổ về, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã long trọng tôn vinh Thánh Nữ Têrêsa Hài Ðồng Giêsu là Tiến Sĩ Hội Thánh.
… “Thánh Têrêsa Hài Ðồng Giêsu là vị Thánh trẻ nhất được tôn vinh danh hiệu Tiến Sĩ Hội Thánh, song con đường thiêng liêng của Thánh nhân chứng tỏ sự trưởng thành sung mãn nhất nơi Ngài. Cảm nhận đức tin còn lưu lại trên bút tích của Thánh nhân quả thực sâu rộng khiến Ngài xứng đáng chen vai thích cánh cùng các bậc thầy lừng danh về tu đức của Giáo Hội Công Giáo.” như Thánh Tôma Aquinô, Thánh Augustinô, Thánh  Grêgôriô Cả và Thánh Phanxicô Salê.
Phụ lục Đường Thơ Ấu
Thánh Têrêsa được biết đến nhiều nhất bởi linh đạo "Đường Thơ ấu" của mình. Trong việc tìm kiếm sự thánh thiện, Têrêsa đã thấu hiểu rằng để đạt được đều ấy và bày tỏ tình yêu của mình đối với Chúa, thì không cần phải thực hiện những việc làm anh hùng hoặc "cao siêu". Têrêsa viết:
"Tình yêu chứng tỏ chính nó bởi việc làm, vì vậy làm sao con có thể chứng tỏ tình yêu của mình được? Con không thể làm những việc cao siêu được. Cách duy nhất để con chứng tỏ tình yêu của mình là bằng cách rắc hoa; những bông hoa này là tất cả những hy sinh bé nhỏ, mỗi cái nhìn, mỗi lời nói và thực hiện mọi việc làm bé nhỏ nhất với tình yêu."
Linh đạo "Đường Thơ ấu" này cũng xuất hiện trong con đường người nữ tu trẻ tiến đến đời sống thiêng liêng:
"Đôi lúc, khi con đọc các bài viết thiêng liêng, nơi mà sự hoàn hảo được cho thấy với một ngàn cản trở cũng như những ảo tưởng xung quanh nó, tâm trí bé nhỏ tội nghiệp của con trở nên mệt mỏi, con đóng cuốn sách, để lại đầu óc con như bị cắt ra làm đôi và trái tim con như bị co rút lại. Con mở Kinh Thánh ra. Và ngay lúc đó, tất cả đều trông thật là rực rỡ, một chữ duy nhất đã mở ra những chân trời vô tận cho linh hồn của con. Sự hoàn hảo trông thật là dễ dàng. Con thấy đó là đủ để nhận ra sự hi hữu của mình và vì như vậy, dâng trọn bản thân mình, như một đứa trẻ, vô cánh tay của Chúa nhân 








                           
THÁNH NỮ TÊRÊSA HÀI ĐỒNG GIÊSU, ngày 01/10
Lc 1, 26-38

VỊ THÁNH TÍN THÁC TUYỆT VỜI

Còn tâm tình nào trìu mến và cao vời bằng tình yêu sâu đậm thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu dành cho Thiên Chúa? Còn sự phó thác nào tuyệt vời hơn sự phó thác thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu đặt nơi Thiên Chúa ?
Người ta khi đọc lại hạnh thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, đặc biệt đọc tiểu sử một linh hồn, con người không khỏi ngạc nhiên khi thấy vị thánh này vẫn phải quay về, vẫn phải hoán cải. Têrêsa đã thống hối, trở về với Thiên Chúa nhân ngày lễ giáng sinh…Cuộc đời của thánh nữ đã hoàn toàn được đổi mới. Ngài đã chuyển hoá nội tâm, thay đổi cách sống, biến đổi tư duy để từ nay hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Thánh Gioan đã chẳng viết:” Thiên Chúa là tình yêu “ sao ? Vì cảm nghiệm sâu xa tình thương vô biên của Thiên Chúa :”…Khi nào Ta bị treo lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người đến với Ta” “ Không tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống mình vì người mình yêu” ( Ga 15, 13 ). Thánh nữ Têrêsa đã sống hoàn toàn cho tình yêu. Có thể nói, cuộc đời của thánh nữ là bài ca tri ân cảm tạ Thiên Chúa:” Tình thương Chúa đời đời con ca ngợi” ( Tv 88 ). Thánh nữ đã sống tất cả vì tình yêu. Tất cả đời sống của Ngài là tình yêu. Khi tìm hiểu về cuộc đời của thánh nữ Têrêsa, người ta chỉ có thể nói được một câu mà gói trọn hết con người của Ngài: “ Thánh nữ của tình yêu “.
Con đường thơ ấu thiêng liêng mà thánh nữ vạch ra là con đường tình yêu. Một con đường yêu thương nhỏ bé để đạt được chính Thiên Chúa. Con đường thơ ấu thiêng liêng chính là con đường phó thác, con đường cậy mến trung kiên, con đường hiến thân từ bỏ, con đường xả kỷ:” vác thập giá” mà theo Đức Kitô. Con đường này, nói một cách nôm na là con đường tín thác: tín thác thật tinh ròng và thật khiêm tốn thẩm sâu trước Thiên Chúa. Thánh nữ đã viết:” Ôi, lạy Chúa Giêsu, xin để cho con được nói với Chúa rằng tình thương của Chúa đã đi tới chỗ điên  rồ !…Vậy làm sao tình mến yêu của con lại không bốc lên tới Chúa ? Làm sao niềm tín thác của con còn có thể có những giới hạn ?…Ôi, Chúa Giêsu, ước gì con có thể nói cho tất cả những tâm hồn bé nhỏ nghe biết về sự chiếu cố khôn tả của Chúa ! Con cảm thấy rằng nếu như Chúa có thể tìm thấy một linh hồn yếu đuối hơn linh hồn con, Chúa sẽ vui sướng ban cho linh hồn đó đầy rẫy những hồng ân lớn lao hơn, miễn là linh hồn đó sống trọn vẹn tín thác cho lòng thương xót vô cùng của Chúa” ( Tiểu sử một linh hồn, ch. XI, tr. 221 ).
Con đường tín thác tuyệt vời thánh nữ Têrêsa vạch ra đang kêu mời mọi người đi theo. Thánh nữ đã làm gương để nhân loại noi theo, bắt chước Ngài trong việc hoàn thiện, nên thánh bằng những việc nhỏ bé, nhưng đầy ắp tình yêu.
Thánh Têrêsa sinh ngày 2/1/1873 tại Alancon nước Pháp trong một gia đình đạo đức. Song thân của Ngài là ông Louis Martin và bà Maria Guerin. Mẹ của thánh nữ qua đời khi Ngài vừa tròn 4 tuổi để lại cho Têrêsa một nỗi buồn khôn tả. Thánh nữ được cha già và các chị giúp đỡ, dẫn dắt trên đường đạo đức và Ngài tiến rất xa trên đường hoàn thiện.Năm 10 tuổi Ngài được rước lễ lần đầu và được lãnh nhận bí tích thêm sức. Ngài được Đức Mẹ chữa lành một căn bệnh cách lạ lùng ngay năm hồng phúc ấy. Năm 1887, vào ngày lễ sinh nhật, Ngài quyết định đi theo tiếng Chúa gọi mời và Ngài được Đức Giáo Hoàng ban đặc ân vào dòng kín khi mới 15 tuổi đời. Nét nổi bật nhất trong đời tu của thánh nữ là lòng đơn sơ phó thác vào Chúa, bác ái với mọi người và yêu mến các linh hồn. Thánh nhân được chị của mình là Pauline khuyến khích ghi lại :” Tiểu sử một linh hồn “( Histoire d’ une âme ).Ngày 14/6/1895, thánh nhân cảm thấy một vết thương mở rộng trong khi ngắm đàng thánh giá. Ngày 8/7/1897, thánh Têrêsa lâm trọng bệnh và ngày 30/9/1897, thánh nữ đã trút hơi thở cuối cùng ra đi về với Thiên Chúa tình yêu, sau khi lãnh nhận của ăn đàng cuối cùng. Đức Giáo Hoàng Piô XI đã nâng Ngài lên bậc hiển thánh và đặt Ngài làm bổn mạng các xứ truyền giáo. Thánh nữ còn được phong tiến sĩ Hội Thánh vì những tư tưởng đạo đức cao sâu của Ngài để lại cho nhân loại.
Lạy thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, xin cầu bầu cho chúng con trước ngai tòa Chúa để chúng con luôn biết chấp nhận mọi thử thách, khổ đau Chúa gửi đến trong tinh thần đơn sơ và phó thác.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT

Mục Lục
Trở Về Trang Nhà
  Để lại cho những tâm hồn vĩ đại, những trí óc vị đại những cuốn sách to tát con không thể hiểu nổi, con vui mừng hớn về sự bé nhỏ của mình bởi vì "chỉ có trẻ nhỏ và những ai có đầu óc như vậy sẽ được nhận vào bữa tiệc thiên đàng."
Những đoạn văn ở trên cho thấy Têrêsa chứa nhiều tình cảm và cũng rất ngây thơ. Điều này được thể hiện rõ qua cách người nữ tu tiến đến sự cầu nguyện:
"Đối với con, cầu nguyện là sự dấy lên của trái tim; nó là một cái nhìn đơn sơ về Thiên đàng, nó là tiếng kêu của nhận diện và tình yêu, ôm ấp cả khổ cực lẫn niềm vui. Nói một cách khác, nó là một cái gì đó cao quý, siêu nhiên, mở rộng tâm hồn con ra và kết hợp nên một với Chúa... Con đã không có dũng cảm để tìm trong sách các lời kinh đẹp đẽ... Con giống như một đứa con nít chưa biết đọc, chỉ nói với Chúa tất cả những gì con muốn và Ngài sẽ hiểu thấu."

Thứ Bảy, 1 tháng 6, 2013

  
                                                VOVA




Vova bắt đầu đi học lớp một. Trong buổi học đầu tiên, Vova đã nói với cô giáo:
- Thưa cô, em quá thông minh so với lớp một! Cô hãy cho em lên thẳng lớp ba!
Cô giáo dẫn Vova lên gặp thầy hiệu trưởng, kể đầu đuôi câu chuyện.
Thầy hiệu trưởng:
- Được rồi, chúng ta cùng kiểm tra trình độ của Vova. Vova, 3 nhân 3 bằng mấy?
Vova:
- 9!
- Đúng rồi! Thế 6x6?
- 36!
- Chính xác! Tôi nghĩ rằng - hiệu trưởng quay sang cô giáo - chúng ta chuyển Vova lên lớp 3!
Cô giáo:
- Để tôi hỏi thêm Vova về tính logic! Vova, cái gì ở con bò cái có 4 cái, còn ở cô có 2 cái?
Vova thoáng nghĩ và trả lời:
-Chân!
-Có việc gì mà khi làm con chó đứng bằng 3 chân còn người thì đứng bằng 2 chân?
-Bắt tay!
-Hmm, Thế cái gì có trong quần của em, còn cô không có?
Hiệu trưởng tròn mắt, thậm chí chưa kịp mở miệng thì Vova đã nói:
- Cái túi!
Cô giáo:
-Đúng rồi, Vova ....... lên thẳng lớp 3!
Hiệu trưởng:
- Tôi nghĩ rằng có thể chuyển Vova lên thẳng lớp 5, bởi vì 3 câu hỏi cuối cùng, đến tôi thậm chí còn nhầm!
--------------------------------------
Malisa kể chuyện với mẹ: Mẹ ơi, hôm nay thằng Vova nó bảo con mặc váy rồi trèo lên cột cờ nó cho con 5 đô la.
Bà mẹ gắt lên: Sao con ngu vậy, nó làm thế là để nhìn cái quần trong của con đấy
Malisa reo lên: Đấy, con biết ngay mà, con có ngu đâu. Con biết nó dụ con cho nó xem quần trong nên con đâu có mặc quần trong. Thế là nó phí mất 5 đôla
-----------------------------------
Bố Vôva đến đón con ở nhà trẻ, vào phòng thứ nhất có biẻn đề "học sinh ngoan" nhìn quanh không thấy Vôva đâu cả.
Vào phòng thứ 2 "học sinh trung bình" - không thấy Vôva
Vào phòng thứ 3 "học sinh cá biệt" - vẫn không thấy Vôva
Vào phòng thứ 4 "học sinh đặc biệt hư" - cũng không thấy Vôva đâu
Bố Vôva đi đến cuối hành lang, thấy có một phòng nhỏ, biển treo bên ngoài đề "Vôva".
------------------------------------
Vova chạy vào nhà hỏi mẹ:
- Mẹ ơi trẻ con sinh ra như thế nào?
Bà mẹ bối rối nghĩ bụng thằng này chưa đến tuổi giáo dục giới tính, bèn nói:
- À do con cò mang đến cho các ông bố bà mẹ con ạ.
Vova chạy ngay ra ngoài bảo Natasha:
- Thấy chưa, thế mà ấy cứ lo. Mình thử nhé!
-----------------------------------
Cô giáo mặc mini jupe bư­ớc vào phòng học, cả lớp im lặng. Cô giáo bắt đầu giảng bài, bỗng viên phấn từ tay cô rơi xuống đất, cô giáo cúi xuống nhặt. Bàn đầu tiên rộ lên tiếng c­ười. Cô giáo ngoảnh lại hỏi:
- Natasha, sao em c­ười ?
- Th­ưa cô... vì em nhìn thấy mắt cá chân của cô ạ!
- Em ra ngoài, ngày mai đến lớp!
- Ivan, sao em cư­ời ?
- Thư­a cô... vì em nhìn thấy đầu gối của cô ạ!
- Em ra ngoài, tuần sau đến lớp!
- Ruka, sao em c­ười ?
- Thư­a cô... vì em nhìn thấy đùi của cô ạ!
- Em ra ngoài, tháng sau đến lớp!
Vô va đứng đấy gấp sách vở đi ra cửa, cô giáo hỏi:
- Vô va, tôi chư­a hỏi đến em sao em về?
- Em xin chào cô và các bạn sang năm em đến lớp!
View more random threads:
·         Cười một tẹo!!!!!!
·         Truyện cười tam quốc
·         Clip hài Phong thủy
·         Hoàng tử thông minh
·         Tản mạn cười !
·         Một lần bia ôm

Nguồn: http://diendankienthuc.net/diendan/vui-cuoi/100893-truyen-cuoi-vova.html#ixzz2PyIOAgXq
Diễn Đàn Kiến Thức - Học Tập Suốt Đời


Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2013

NHỮNG CÂU NÓI HAY NHẤT MỌI THỜI ĐẠI

Bạn hãy yêu tự do hơn tất cả và làm điều thiện ở bất cứ nơi nào có thể .


Đừng để một ai chẳng nhận được gì khi rời chỗ bạn cho dù bạn biết rằng không bao giờ gặp lại .

Danh dự là sự hòa hợp tự nhiên giữa việc tôn trọng mọi người và tự tôn trọng chính mình .

Lý trí có thể mách bảo ta điều phải tránh, còn con tim sẽ chỉ cho ta biết điều phải làm .

Cái gì xuất phát từ trái tim sẽ đi đến trái tim.

Không có ngày mai nào lại không kết thúc, không có sự đau khổ nào lại không có lối ra .

Nếu như trí tuệ là cái vốn quí nhất và hữu ích nhất thì sự hài hước là tính dễ chịu nhất của con người.

Hãy làm tròn mỗi công việc của đời mình như thể đó là công việc cuối cùng.

Tôi thường hối tiếc vì mình đã mở mồm chứ không bao giờ…vì mình đã im lặng.

Cách khéo nhất để làm vừa lòng ai đó là xin họ lời khuyên.

Nếu có hai người cùng sống với nhau hòa thuận nên tin trong đó ít nhất một người tốt.

Đừng mua thứ hữu ích mà hãy mua thứ cần thiết.

Người đáng nói mà mình không nói là mất người, Người không đáng nói mà mình nói là mất lời.

Người xin bố thí đỏ mặt một lần, kẻ từ chối không bố thí đỏ mặt hai lần.

Hoài nghi chính mình là điều phải làm đầu tiên của người quân tử.

Khi đã biết tha thứ, bạn sẽ mỉm cười nhiều hơn, biết cảm nhận sâu sắc và dễ thông cảm với người khác.

Đừng ném lời cho gió, nếu không hay biết gió thổi về đâu

Nếu sự khiêm nhường của bạn khiến mọi người để ý thì hẳn có chút đó chẳng bình thường.

Người không biết tươi cười sẽ không biết cách mở ra những cánh cửa.

Đừng để đến ngày mai những việc gì anh có thể làm hôm nay.

Một người chưa biết nói những lời nói dối đẹp đẽ thi người đó không bao giờ biết đến thế giới chân thực.

Cho quí hơn nhận song cái giếng sâu nhất cũng cạn nếu không được uống nước đó sao?

Đừng bao giờ đóng sầm cửa lại; có thể bạn muốn quay trở lại vào đấy.

Nếu đó là một công việc quan trọng – hãy tự mình làm lấy.

Nếu bạn không thể là mặt trời thì hãy đừng là đám mây.

Thế giới sẽ tốt đẹp hơn nếu ta dành cho người khác dù chỉ một chút thông cảm mà ta vẫn thường dành cho ta.

Đừng cố gắng tỏ ra cái không phải là mình.

Nếu có ai đó đáng để ta làm quen thì cũng đáng để ta hiểu rõ.

Đối với người có nhiều tài đức thì đừng có chê bai nhỏ mọn.

Đối với người có danh dự thì chớ chỉ trích những lỗi lầm.

Tôi chưa bao giờ gặp một người nào mà tôi không tìm thấy nơi họ một cái gì đáng cho tôi học hỏi.

Bạn nên ghi nằm lòng rằng tất cả trẻ con dù ở độ tuổi nào cũng vậy, đều bịt tai trước những lời ta khuyên răn dạy bảo, chúng sẽ mở mắt thật to nếu người ta làm gương cho chúng thấy.

Cử chỉ đẹp là đức hạnh được dịch ra một thứ ngôn ngữ dễ hiểu.

Những gì ta cho đi một cách thật lòng thì mãi mãi là của ta.

Thiếu thận trọng gây nhiều tai hại hơn thiếu hiểu biết.

Hãy suy nghĩ tất cả những gì bạn nói nhưng đừng nói tất cả những gì bạn nghĩ.

Hãy kiên nhẫn làm bổn phận của mình và giữ thinh lặng, đó là câu trả lời tốt nhất cho sự vu khống.

Con ong được ca tụng vì nó làm việc không phải cho chính mình nhưng cho tất cả.

Bàn tay tặng đóa hồng bao giờ cũng còn phảng phất mùi thơm.

Đừng bao giờ khiêm tốn với kẻ kiêu căng, cũng đừng bao giờ kiêu căng với người khiêm tốn.

Không nên đánh giá một người dựa vào những cái anh ta không biết mà nên dựa vào những cái anh ta hiểu biết.

Hãy hiền dịu khoan dung với hết mọi người trừ bản thân mình.

Nếu ai nói xấu bạn mà nói đúng thì hãy sửa mình đi. Nếu họ nói bậy thì bạn hãy cười thôi.

Khi ta tự trách mình thì dường như không ai có quyền trách ta.

Kẻ bắt chước cái xấu luôn vượt xa cái gương xấu ấy. Trái lại, kẻ bắt chước cái tốt luôn thua kém cái gương ấy.

Ai không biết nghe, tất không biết nói chuyện.

Mỗi khi khuyên ai bất cứ điều gì thì nên thật vắn tắt.

Anh có thể lừa vài người trong mọi lúc, anh cũng có thể lừa mọi người trong vài lúc, nhưng anh không thể lừa mọi người trong mọi lúc.

Phải biết mở cửa lòng mình trước mới hy vọng mở được lòng người khác

Điều gì anh muốn người ta làm cho anh, anh hãy làm cho người ta.

Đừng nói tất cả những gì mình biết.

Đừng tin tất cả những mình nghe.

Đừng làm tất cả những gì mình có thể làm.

Trao cho ai đó cả con tim mình không bao giờ là một sự đảm bảo rằng họ cũng yêu bạn, đừng chờ đợi điều ngược lại. Hãy để tình yêu lớn dần trong tim họ, nhưng nếu điều đó không xảy ra thì hãy hài lòng vì ít ra nó cũng đã lớn lên trong bạn.

Có một vài thứ mà bạn rất thích nghe nhưng sẽ không bao giờ được nghe từ người mà bạn muốn nghe, nhưng nếu có cơ hội, hãy lắng nghe chúng từ người nói với bạn bằng cả trái tim.

Ðừng bao giờ nói tạm biệt khi bạn vẫn còn muốn thử. Ðừng bỏ cuộc khi bạn cảm thấy vẫn còn có thể đạt được.

Ðừng nói bạn không yêu ai đó nữa khi bạn không thể rời xa họ. Tình yêu sẽ đến với những người luôn hy vọng dù họ đã từng thất vong.

Ðừng chạy theo vẻ bề ngoài hào nhoáng, nó có thể phai nhạt theo thời gian. Ðừng chạy theo tiền bạc, một ngày kia nó cũng sẽ mất đi. Hãy chạy theo người nào đó có thể làm bạn luôn mỉm cười bởi vì chỉ có nụ cười là tồn tại mãi. Hy vọng rằng bạn sẽ tìm ra người đó.

Ðôi khi trong cuộc sống, có lúc bạn cảm thấy bạn nhớ ai đó đến nỗi muốn chạy đến và ôm chầm lấy họ. Mong rằng bạn sẽ luôn mơ thấy họ. Hãy mơ những gì bạn muốn, đi đến nơi nào mà bạn thích, hãy là những gì bạn thích vì bạn chỉ có một cuộc sống và một cơ hội để làm tất cả trong cuộc đời. Mong rằng bạn luôn có đủ hạnh phúc để vui vẻ, đủ thử thách để mạnh mẽ hơn, đủ nỗi buồn để bạn trưởng thành hơn và đủ tiền để mua quà cho bạn bè.

Hãy luôn đặt mình vào vị trí người khác, nếu điều đó làm tổn thương bạn thì nó cũng sẽ tổn thương người khác.

Một lời nói vô ý là một xung đột hiểm họa, một lời nói nóng giận có thể làm hỏng cả một cuộc đời, một lời nói đúng lúc có thể làm giảm căng thẳng, còn lời nói yêu thương có thể chữa lành vết thương và mang đến sự bình yê


Thứ Năm, 30 tháng 5, 2013

HELLO

                                         

     TÊRÊXA GIÁO XỨ THANH DẠ