THAY ÐỔI VỀ THỂ LÝ người già
Sự thay đổi về diện
mạo bề ngoài thì ai cũng thấy như: da nhăn, tóc bạc, lưng khòm, đi đứng chậm
chạp, nói năng chậm chạp, mắt mờ, tai lãng, sức yếu v.v... Tôi muốn trình bày ở
đây những sự thay đổi tinh tế mà nếu không lưu tâm, chúng ta sẽ không nhận ra,
và từ đó, đưa đến sự thiếu sót trong việc chăm sóc cho các cụ, nhiều khi đưa
tới những hậu quả tai hại cho sức khỏe cả về thể chất lẫn tinh thần:
1. Phản ứng
chậm: sau khi nghe câu hỏi, người già cần một khoảng thời gian lâu hơn để
ghi nhận dữ kiện, và thời gian lâu hơn để đưa ra câu trả lời. Do đó, chúng ta
cần nói chậm rãi hơn bình thường, nhìn thẳng vào mắt các cụ để biết rằng các cụ
đang chú ý lắng nghe, khi có câu hỏi quan trọng. Chúng ta cũng cần chờ lâu hơn
bình thường để nghe câu trả lời. Nếu các cụ lãng tai, thì chúng ta càng cần
kiên nhẫn hơn nữa.
2. Sự đi đứng chậm
chạp và phản ứng chậm khiến các cụ cần nhiều thời gian hơn để chuẩn bị mỗi khi
đi ra ngoài. Do đó, chúng ta cần báo cho các cụ biết trước khi các cụ cần đi
đâu, càng sớm càng tốt để các cụ chuẩn bị, như thay quần áo, thu xếp giấy tờ
cần thiết. Chúng ta cần để ý đến tâm trạng sốt ruột và bực bội của mình khi chờ
các cụ, để kiên nhẫn hơn và tránh những câu nói thiếu tế nhị làm các cụ cảm
thấy tủi thân và mủi lòng.
3. Thiếu chú ý và hay
quên: thật ra, người già không mất đi những hiểu biết và khả năng của
mình, các cụ chỉ chậm chạp hơn trong việc bày tỏ và vận dụng sự hiểu biết của
mình mà thôi, do đó, nhìn bề ngoài chúng ta dễ nghĩ là các cụ hay quên khi
chúng ta phải chờ một hồi lâu mới được câu trả lời mà mình muốn nghe. Chúng ta
cần để ý đến sự bực bội của mình khi phải lập đi lập lại một điều đã cũ mà
chúng ta cho rằng các cụ đã biết rồi. Chúng ta cần phân biệt sự chậm chạp và
hay quên bình thường của người già với bệnh lẫn gọi là Dementia hay Alzheimer
Disease. Hai bệnh này cần có sự khám nghiệm và điều trị của bác sĩ thần kinh
hoặc bác sĩ tâm thần.
4. Dễ mắc bệnh
hơn người trẻ, do sự già lão và suy nhược của các cơ quan trong cơ thể, và do
khả năng miễn nhiễm không còn mạnh mẽ như trước. Những bệnh như cảm cúm, sưng
phổi, rất dễ đưa tới cái chết cho người già mặc dù người trẻ có thể đương cự và
bình phục một cách dễ dàng. Những triệu chứng báo động của cơ thể không còn bén
nhạy như trước, do đó, người già có thể không cảm thấy là mình đang khát mặc dù
cơ thể đang bị thiếu nước trầm trọng, người già có thể không bị sốt cao như
người trẻ mặc dù đang bị sưng phổi hay nhiễm trùng. Do đó, người già cần
được lưu tâm và quan sát đặc biệt để nhận ra những thay đổi cho thấy các cụ
đang bị bệnh, hầu kịp thời săn sóc và chữa trị.
5. Hay ngã
té: vì chân yếu và khả năng giữ quân bình không còn mạnh như xưa. Do đó,
trong phòng tắm cần có những biện pháp ngừa trơn trợt khi các cụ ra vào bồn
tắm. Các cụ có thể không lên xuống cầu thang một cách mạnh dạn hay dễ dàng như
trước. Sau khi té ngã, bị gãy xương chẳng hạn, các cụ cũng cần thời gian lâu
hơn mới bình phục lại được.

(Ảnh mang tính minh họa - Nguồn Internet)
THAY ÐỔI TÂM LÝ
Trong các giai đoạn
của cuộc sống, tuổi già là tuổi con người ngưng bon chen với cuộc sống để bắt
đầu thụ hưởng kết quả do những năm tháng trước mang lại. Tuổi này còn là lứa
tuổi truyền lại cho con cháu và thế hệ sau những kinh nghiệm và sự hiểu biết,
hoặc đóng góp vào xã hội qua những sinh hoạt xã hội, giáo dục và từ thiện. Bên
cạnh đó, sự suy giảm chức năng có thể làm cho người già cảm thấy mình không còn
làm chủ tình hình như trước và trở nên lo lắng quá độ. Nếu con người tới
tuổi già không có gì để thụ hưởng, sống nghèo khó, đơn côi, không người chăm
sóc hay kề cận, hoặc có những ước mơ không thỏa, họ có thể có những xáo trộn
tâm lý như phát bệnh trầm cảm hoặc trở nên lo lắng hay đa nghi. Sau đây là
những thay đổi tâm lý còn nằm trong mức độ bình thường:
1. Muốn được
chăm sóc và để ý tới nhiều hơn: do những thay đổi thể lý, người già có thể mất
đi những khả năng đã có như không thể lái xe được nữa, không tự nấu ăn hay chăm
sóc vệ sinh cơ thể được nữa, do đó trở thành lệ thuộc người khác. Có người già
chấp nhận và ứng phó thành công với sự suy giảm chức năng, nhưng cũng có người
trở thành lo lắng quá độ, lúc nào cũng đòi con cái ở cạnh để được chăm sóc,
hoặc trở thành cau có, gắt gỏng khi con cái bê trễ trong việc đáp ứng những nhu
cầu của mình.
2. Sợ cô đơn: nhất là
với đời sống ở các nước tân tiến và kỹ nghệ như tại Hoa Kỳ, tuổi trẻ bận rộn
bay nhảy, bon chen, người già rất dễ thấy mình bị bỏ rơi và quên lãng trong bốn
bức tường, nếu không có khả năng lái xe, đi xe bus để tham gia những sinh hoạt
xã hội hoặc giải trí. Sự cách biệt giữa các sinh hoạt thời còn trẻ và
tuổi già càng nhiều thì sự thích nghi càng khó. Do đó, người già có thể có thái
độ thất vọng, trì kéo và lệ thuộc vào con cái của mình. Chúng ta cần thông cảm
thái độ này để cư xử một cách tế nhị hầu tránh rơi vào trường hợp hất hủi hay
ngược đãi người già.
3. Hay lo âu hơn
trước: chính vì chậm chạp, mất đi những chức năng và phải lệ thuộc hay nhờ vả
người khác, mà người già trở nên lo lắng quá độ. Do sự lo lắng này, các cụ
thường lập đi lập lại một yêu cầu hay một câu hỏi, để được trấn an. Nhưng chính
sự lập đi lập lại này có thể làm con cháu hay người gần cận trở thành bực dọc
và cau có với các cụ.
4. Dễ mủi lòng, tủi
thân khi những nhu cầu hay yêu cầu của mình không được các con đáp ứng đầy đủ
hay nhanh chóng. Nhất là các cụ đã từng dành phần lớn thì giờ của đời
mình trong việc chăm sóc, lo lắng cho các con với ước mơ được các con đền đáp
lúc tuổi già.
5. Nếu người già có
những ước mơ không thực hiện được, không hài lòng với cuộc đời mình, có thể có
những triệu chứng của bệnh trầm cảm, và trở thành một người khó tính, hay gay
gắt với con cái, và có thể, ganh tị cả với sự thành công của các con. Những
người già can thiệp hay kiểm soát quá nhiều vào đời sống con cháu, thường là
những người không thỏa hiệp và thích nghi được với giai đoạn mới này của đời
sống.
NHỮNG ÐIỀU CẦN ÐỂ Ý
KHI CƯ XỬ VỚI NGƯỜI CAO NIÊN
1. Hiểu được rằng
người cao niên có những sự thay đổi do tuổi già đem lại, do đó, các cụ có thể
không còn đáp ứng được những gì chúng ta mong ước nơi các cụ, như nấu ăn, dọn
dẹp nhà cửa, lái xe, ứng biến nhanh chóng đối với những sự thay đổi của đời
sống. Hiểu như vậy sẽ giúp chúng ta thông cảm thay vì thất vọng hay nổi giận
khi mọi chuyện không còn xảy ra như chúng ta mong ước.
2. Quan tâm đến
những nhu cầu thực tế và căn bản của các cụ hầu đáp ứng, như ăn, ngủ, phương
tiện chuyên chở khi đi khám bác sĩ. Ðể ý xem các cụ có chính xác trong
việc uống thuốc đúng theo toa bác sĩ không hầu giúp đỡ.
3. Kiên nhẫn, tránh
tìm cách chứng minh là các cụ sai lầm. Cần suy nghĩ và nhận xét tình hình
trước khi có phản ứng. Bạn sẽ thấy rằng mình hay gắt gỏng và cau có với
các cụ hơn trước chỉ vì bị hỏi đi hỏi lại một câu hỏi mà bạn đã trả lời nhiều
lần. Bạn cần để ý đến sự bực bội của mình vì các cụ quá chậm chạp mà mình
thì đang gấp rút chạy đua với công việc.
4. Lắng nghe các cụ
nói và ghi nhận, thay vì tìm cách sửa sai. Các cụ rất dễ tủi thân vì cho rằng
con cái không còn kính trọng mình nữa. Cứ làm những điều bạn cho là đúng mà
không cần phải thuyết phục các cụ đồng ý với mình, đồng thời vẫn ngọt ngào và
chăm sóc các cụ. Nếu bạn cảm thấy khổ sở vì phải nghe các cụ lập đi lập lại
những lời khuyên đã cũ, có thể tế nhị hướng câu chuyện sang một lãnh vực khác,
hoặc biến những cuộc thăm viếng trở thành thường xuyên nhưng ngắn hạn hơn.
5. Cung cấp và tạo
điều kiện cho các cụ có những sinh hoạt giải trí đều đặn, như đi bộ cùng các cụ
khác, tập thể thao, đánh bài, đánh cờ tướng, đi du lịch. Người già thường
yêu thích trẻ con, do đó nên tạo cơ hội cho các cụ vui chơi với các cháu ngoại,
cháu nội.
6. Khi thấy các cụ có
những sự thay đổi lớn, như hay cau có, gắt gỏng, thay đổi tính nết trở thành
khó chịu, hay quên, xuống cân, ít ngủ, biếng ăn, nên nghĩ đến những căn bệnh có
thể xảy ra cho người già về thể chất lẫn tâm thần hầu kịp thời đưa các cụ đi
khám bác sĩ, thay vì cho rằng chỉ là những thay đổi thông thường.
CÁI CHẾT
Vấn đề ưu tư hàng đầu
của người già, dù nói ra hay không, vẫn là đối diện với cái chết. Có cụ rất
thoải mái bàn luận về vấn đề này, có những thu xếp và hoạch định rõ ràng về
tang lễ của mình. Có cụ không nói gì vì kiêng cữ, sợ xui xẻo, con cháu chỉ biết
được ý các cụ sau khi đã qua đời, theo chúc thư để lại. Có cụ không thỏa hiệp
được với cái chết, và có những dấu hiệu sợ hãi cái chết. Do đó, bạn nên
dò xét ý tứ các cụ và tạo cơ hội để các cụ có thể bàn bạc về vấn đề này một
cách rõ ràng. Các cụ đa số sẽ thấy yên tâm hơn khi con cháu biết được ý
muốn của mình và tỏ vẻ
Mầu nhiệm Nhập Thể cho chúng ta thấy rằng Thiên Chúa đã không cho cái gì, nhưng là cho chính mình trong Người Con Duy Nhất với sự nhưng không và tình yêu thương.
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã khẳng định như
trên với mấy ngàn tín hữu tham dự buổi tiếp kiến thứ hai của năm 2013 trong đại
thính đường Phaolô VI sáng thứ tư 09-01-2013.
Vì đang là mùa Giáng Sinh, nên trong bài huấn
dụ, Đức Thánh Cha đã tiếp tục khai triển ý nghĩa mầu nhiệm Ngôi Lời Con Thiên
Chúa nhập thể làm người.
Trong mùa này, khi tham dự các lễ nghi phụng
vụ, chúng ta thường nghe vang lên nhiều lần từ “nhập thể” diễn tả thực tại chúng ta cử hành trong lễ Giáng
Sinh: đó là Con Thiên Chúa đã làm người, như chúng ta đọc trong kinh Tin Kính.
Từ chính yếu này đối với đức tin kitô có nghĩa là gì? Nó bắt nguồn từ tiếng La
tinh “incarnatio”. Và Đức Thánh
Cha giải thích ý nghĩa từ “nhập thể”
như sau:
“Ở đây từ
”thịt xác”, theo sử dụng của tiếng Do thái, ám chỉ con người trong sự toàn vẹn
của nó, tất cả con người, nhưng chính dưới khía cạnh của sự tàn tạ, của tính
chất tạm thời, của sự nghèo nàn và hữu hạn của nó. Điều này để nói với chúng ta
rằng ơn cứu độ do Thiên Chúa nhập thể nơi Đức Giêsu thành Nagiarét đem đến,
liên quan tới con người trong thực tại cụ thể và trong bất cứ tình trạng sống
nào của nó.
Thiên Chúa đã nhận lấy điều kiện là người, để
chữa lành nó khỏi tất cả những gì chia rẽ nó với Người, để cho phép chúng ta
gọi Người, trong Người Con Duy Nhất, với tên gọi ”Abba, Cha” và thật sự, chúng
ta là con cái của Người. Thánh Ireneo khẳng định rằng: ”Đó là lý do, bởi đó
Ngôi Lời đã làm người, và Con Thiên Chúa, Con của con người: để cho con người,
khi bước vào sự hiệp thông với Ngôi Lời và như thế, nhận được ơn là con Thiên
Chúa, trở thành con Thiên Chúa” (Adversus
haereses 3,19,1; PG 7,939; x. SGLGHCG, 460).
Tiếp tục bài huấn dụ, Đức Thánh Cha ghi nhận
rằng sự kiện “Ngôi Lời nhập thể” đã trở
thành một thực tại quen thuộc, khiến cho chúng ta không còn ý thức được sự cao
cả mà nó diễn tả nữa. Thật thế, trong mùa Giáng Sinh thường khi người ta chú ý nhiều
tới các khía cạnh bề ngoài, các ”màu mè” của ngày lễ hơn là trọng tâm sự mới mẻ
kitô vĩ đại mà chúng ta cử hành: một cái gì không thể tưởng được, mà chỉ có
Thiên Chúa có thể làm và chúng ta chỉ có thể bước vào đó với lòng tin. Ngôi
Lời, Ngôi Lời là Thiên Chúa (x. Ga 1,1) mà
nhờ Người mọi sự đều được tạo thánh (x. 1,3), và Người đã đồng hành với loài người trong lịch sử với ánh sáng của
Người (x. 1,4-5; 1,9) trở thành thịt xác và ở giữa chúng ta, trở thành
một người như chúng ta (X.
1,14). Công Đồng Chung
Vatican II khẳng định rằng: “Con Thiên Chúa... đã làm việc với bàn tay con
người, đã suy nghĩ bằng trí tuệ con người, đã hành động với ý chí con người, đã
yêu mến bằng qủa tim con người. Sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria, Người đã thực sự
trở nên một người giữa chúng ta, ngoại trừ tội lỗi” (GS 22). Vì thế, thật là điều quan trọng tái chiếm được sự kinh ngạc trước mầu
nhiệm, để cho chúng ta được bao bọc bởi sự vĩ đại của biến cố: Thiên Chúa đã
rong ruổi các nẻo đường của chúng ta như là người, bước vào trong thời gian của
con người để thông truyền cho chúng ta chính sự sống của Người (x. Ga 1,14). Và Người đã làm điều đó với ánh quang của một vì
vua, chế ngự thế giới với quyền lực của Người, nhưng với sự khiêm tốn của một
trẻ thơ”.
Điểm thứ hai Đức Thánh Cha suy tư trong bài
huấn dụ là thói quen tặng qùa trong dịp Giáng Sinh. Đôi khi nó là một cử chỉ
làm vì tập tục, nhưng nói chung, nó diễn tả sự trìu mến, và là dấu chỉ của tình
yêu và sự quý mến. Trong lời nguyện lễ rạng đông Giáng Sinh chúng ta đọc: “Lậy Cha, xin nhận lấy của lễ chúng con dâng trong đêm
ánh sáng này, và nhờ sự trao đổi mầu nhiệm của các ơn này, xin biến đổi chúng
con trong Chúa Kitô Con Chúa, là Đấng đã nâng con người lên bên Chúa trong vinh
quang”. Đức Thánh Cha giải thích điểm này như sau:
“Tư tưởng
ban tặng này là trung tậm của phụng vụ và nhắc nhở lương tâm chúng ta ơn nguyên
thủy của lễ Giáng Sinh: trong đêm thánh này Thiên Chúa làm người đã muốn tự ban
tặng mình cho loài người, đã tự ban mình cho chúng ta; Người đã nhận lấy nhân
tính của chúng ta để ban cho chúng ta thiên tính của Người. Đó là ơn vĩ đại. Cả
trong việc tặng quà của chúng ta qùa đắt giá hay ít giá không quan trọng; ai
không thành công trong việc cho đi một ít chính mình, thì luôn luôn cho ít. Còn
hơn thế nữa, đôi khi người ta tìm thay thế trái tim và sự dấn thân cho đi chính
mình, bằng tiền bạc với các sự vật vật chất. Mầu nhiệm Nhập Thể đang chỉ cho
thấy rằng Thiên Chúa đã không làm như vậy: Người đã không cho cái gì, nhưng là
cho chính mình trong Người Con Duy Nhất. Ở đây chúng ta tìm thấy mô thức việc
cho đi của chúng ta, để cho các tương quan của chúng ta, đặc biệt là các tương
quan quan trọng nhất, được hướng dẫn bởi sự nhưng không và tình yêu thương.
Điểm suy tư thứ ba là sự kiện nhập thể của
Thiên Chúa làm người cho thấy cái thực tế chưa từng có của tình yêu Thiên Chúa.
Thật vậy, hành động của Thiên Chúa không hạn chế nơi các lời nói, còn hơn thế
nữa, chúng ta có thể nói rằng Người không hài lòng với việc nói, mà còn đắm
mình trong lịch sử của chúng ta và lãnh nhận trên mình sự mệt nhọc và cái nặng
nề của cuộc sống con người. Con Thiên Chúa đã thực sự làm người, sinh bởi Đức
Trinh Nữ Maria, trong một thời gian và nơi chốn xác định, tại Bếtlêhem trong triều
đại của hoàng đế Augusto, dưới thời tổng trấn Quirino (x. Lc 2,1-12).
Người đã lớn lên trong một gia đình, đã có các
bạn hữu, đã thành lập một nhóm các môn đệ, đã dậy dỗ các Tông Đồ để tiếp tục sứ
mệnh của Người, đã kết thúc chặng đường dương thế trên thập giá. Kiểu hành động
này của Thiên Chúa mạnh mẽ khích lệ chúng ta tự vấn về sự thực tế đức tin của
chúng ta. Nó không được hạn chế ở lãnh vực tình cảm, các xúc động, mà phải bước
vào trong cái cụ thể của cuộc sống, nghĩa là phải đụng chạm tới cuộc sống
thường ngày của chúng ta và hướng dẫn nó một cách cụ thể. Thiên Chúa đã không
chỉ dừng lại ở lời nói, nhưng đã chỉ cho chúng ta sống thế nào, bằng cách chia
sẻ chính kinh nghiệm của chúng ta, ngoại trừ tội lỗi.
Sách giáo lý của Đức Giáo Hoàng Pio X hỏi: ”Để
sống theo Thiên Chúa chúng ta phải làm gì?”, và trả lời: ”Để sống theo Thiên
Chúa chúng ta phải tin các chân lý được Người mạc khải, và giữ các giới răn với
sự trợ giúp của ơn thánh Người, có được qua các bí tích và việc cầu nguyện”.
Đức tin có một khía cạnh nền tảng không chỉ liên quan tới trí tuệ và con tim,
mà liên quan tới toàn cuộc sống chúng ta”.
Điểm thứ tư trong suy tư của Đức Thánh Cha
liên quan tới khắng định của thánh Gioan: “Từ
nguyên thủy Ngôi Lời đã ở gần Thiên Chúa và nhờ Người mà muôn vật được tạo
thành, và không có Người thì chẳng có gì được tạo thành (Ga 1,1-3).
“Thánh sử
rõ ràng ám chỉ trình thuật tạo dựng trong các chương đầu sách Sáng Thế và đọc
lại chúng dưới ánh sáng của Chúa Kitô. Đây là một tiêu chuẩn nền tảng trong
việc đọc Thánh Kinh: Cưụ Ước và Tân Ước luôn luôn được đọc chung với nhau, và
từ Tân Ước, mở ra ý nghĩa sâu xa hơn của cả Cựu Ước. Chính Ngôi Lời luôn luôn
hiện hữu gần Thiên Chúa, và chính Người là Thiên Chúa, và nhờ Người và cho
Người mà tất cả được tạo thành (x. Cl 1,16-17)
đã làm người: Thiên Chúa vĩnh cửu và vô biên đã dìm mình trong cái hữu hạn của
con người, trong thụ tạo của Người, để tái dẫn đưa con người và toàn thụ tạo
tới với Người. Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo khẳng định rằng: “Việc tạo dựng thứ
nhất tìm thấy ý nghĩa và tột đỉnh của nó trong việc tạo dựng mới nơi Chúa Kitô,
mà ánh quang vượt ánh quang của việc tạo dựng đầu tiên” (s. 349).
Các Giáo Phụ đã để Đức Giêsu và Ađam cạnh nhau
đến độ định nghĩa Người là “Adam thứ hai” hay Ađam vĩnh viễn, hình ảnh toàn hảo
của Thiên Chúa. Với việc nhập thể của Con Thiên Chúa, xảy ra một cuộc tạo dựng
mới, trả lời hoàn toàn cho câu hỏi ”Ai là con người”. Chỉ nơi Đức Giêsu chương
trình của Thiên Chúa đối với con người mới biểu lộ tràn đầy: Người là con người
vĩnh viễn theo Thiên Chúa. Công Đồng Chung VaticAN II đã mạnh mẽ nêu bật điều
này: ”Thực vậy, mầu nhiệm về con người chỉ thực sự được sáng tỏ trong mầu nhiệm
Ngôi Lời nhập thể... Bởi vì Chúa Kitô, Ađam mới, biểu lộ con người cho con
người một cách tràn đầy và vén mở cho nó ơn gọi rất cao vời của nó” (GS 22;
SGLGHCG, 359). Nơi Hài Nhi Con Thiên Chúa được chiêm ngắm trong lễ Giáng Sinh
chúng ta có thể nhận biết gương mặt thật của con người; và chỉ khi chúng ta
rộng mở cho hoạt động của ơn thánh Chúa và tìm theo Người mỗi ngày chúng ta mới
thực hiện được chương trình của Thiên Chúa đối với chúng ta.”
Đức Thánh Cha đã chào tín hữu băng nhiều thứ
tiếng khác nhau.
Chào các bạn trẻ người đau yếu và các cặp vợ
chồng mới cưới, Đức Thánh Cha nhắc cho mọi người biết rằng Chúa Nhật tới đây,
là lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa. Đây là dịp thuận tiện giúp suy tư trở lại việc
thuộc về Chúa Kitô trong đức tin của Giáo Hội.
Đức Thánh Cha khuyên các bạn trẻ tái khám phá
ra mọi ngày, ơn thánh đến từ bí tích Rửa Tội.
Đức Thánh Cha khích lệ các bệnh nhân múc lấy
sức mạnh từ bí tích ấy trong những lúc khổ đau, không được an ủi. Và ngài nhắn
nhủ các cặp vợ chồng mới cưới biết diễn tả dấn thân của bí tích Rửa tội trong
cuộc sống gia đình.
Sau cùng, Đức Thánh Cha đã cất kinh Lạy Cha và
ban phép lành tòa thánh cho mọi người.
Linh Tiến Khải
(Vatican - 2013-01-09)
+of+images+(5).jpg)
+of+Copy+of+images+(5).jpg)

+of+Copy+of+images+(5).jpg)